Truy cập nội dung luôn

Chi tiết tin


Viêm xoang - bệnh của thời hiện đại
12/11/2014

SKĐS - Viêm xoang là bệnh lý hay gặp ở Việt Nam,chiếm khoảng 25-30% tổng số các bệnh nhân đến khám tai mũi họng và có xuhướng ngày càng gia tăng.

Viêm xoanglà bệnh lý hay gặp ở Việt Nam, chiếm khoảng 25-30% tổng số các bệnhnhân đến khám tai mũi họng và có xu hướng ngày càng gia tăng. Việc tăngthêm ý thức của cộng đồng đối với bệnh viêm mũi xoang hy vọng sẽ gópphần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh.

Viêm xoang là gì?

Viêm xoanglà hiện tượng viêm niêm mạc trong các xoang. Nếu quá trình viêm xuấthiện trên niêm mạc trước đây hoàn toàn khỏe mạnh thì được gọi là viêmmũi xoang cấp tính. Trong trường hợp tình trạng viêm niêm mạc này kéodài trên 12 tuần, lúc này viêm xoang chuyển sang mạn tính.

Xoang là những hốc xương rỗng nằm trong khối xương sọ mặt, ở xungquanh hốc mũi và thông với hốc mũi.Các hốc xương này được lót bởi lớpniêm mạc giống như hốc mũi, đó là niêm mạc đường hô hấp. Ở người trưởngthành, có năm đôi xoang, được chia làm 2 nhóm. Nhóm xoang trước gồm có:xoang sàng trước, xoang trán, xoang hàm, các xoang này được dẫn lưu quakhe giữa của hốc mũi. Nhóm xoang sau bao gồm xoang sàng sau và xoangbướm, dẫn lưu của chúng đổ vào khe trên.

Sinh lý của xoang là thông khí và dẫn lưu. Hai chức năng này thựchiện được là nhờ các lỗ thông của xoang, qua các lỗ thông này xoang vậnchuyển dịch đổ vào hốc mũi và thực hiện quá trình trao đổi khí. Nếu lỗthông xoang bị tắc, lúc này xoang như một cái ao tù, ứ đọng dịch rồi sẽdẫn đến viêm xoang.

Xoang đảm nhận nhiều chức năng: thở, ngửi, bảo vệ, phát âm và nghe, vì thế viêm xoangảnh hưởng nhiều tới chất lượng cuộc sống. Xoang làm nhẹ đi khốixương mặt vì thế khi bị viêm xoang bạn sẽ có cảm giác nặng nề, vùng sọmặt do lúc bị viêm trong lòng xoang thay bằng chứa không khí lại chứadịch viêm.

Viêm mũi xoang có thể gặp ở mọi lứa tuổi, kể cả trẻ sơ sinh. Xoang bịviêm sớm nhất, ngay từ lúc mới sinh, là xoang sàng. Xoang hàm thường bịviêm từ lúc 4 - 5 tuổi. Các xoang khác thường bị viêm muộn hơn.

Viêm xoang - bệnh của thời hiện đại

Vi khuẩn, virut tồn tại trong môi trường tấn công niêm mạc mũi xoang.

Nguyên nhân gây viêm xoang

Có rất nhiều nguyên nhân gây viêm xoang, các nguyên nhân này được xếp thành các nhóm chính sau đây.

- Nhóm viêm nhiễm: Do vi khuẩn: Nhiễm khuẩn vùng mũi họng: là nguyênnhân hay gặp nhất, như viêm họng, viêm amidan, viêm VA ở trẻ em và viêmmũi; Do răng: các bệnh lý ở răng lợi như: viêm lợi, sâu răng, viêm tủy…đều có thể gây viêm xoang hàm, thường gặp là bệnh lý của răng hàm trêntừ răng số 4 đến số 6; Do siêu vi trùng.

- Nhóm dị ứng: Có thể là nguyên phát hoặc thứ phát, cơ địa dị ứng mũi xoang dễ đưa tới viêm xoang mạn tính.

- Chấn thương: Các chấn thương cơ học, do hỏa khí làm vỡ xoang hay tụmáu trong xoang đều có thể gây viêm xoang. Ngoài ra, các chấn thương vềáp lực có thể xuất huyết, phù nề niêm mạc, rồi gây ra viêm xoang.

- Một số nguyên nhân gây cản trở dẫn lưu xoang:

Dị hình ở vách ngăn, khe giữa, ở xoang. Các khối u trong xoang và hốc mũi, hoặc nhét mèche mũi lâu ngày…

Hội chứng trào ngược dạ dày - thực quản (GERD: Gastro EsophagealReflux Disease): Do dịch vị axit ở dạ dày trào ngược lên thực quản,họng, thanh quản, gây ra viêm nhiễm vùng mũi họng, trong đó có viêmxoang.

Cơ địa: Ở những người bị suy nhược toàn thân, rối loạn nội tiết như:đái tháo đường, rối loạn vận mạch, rối loạn nước và điện giải thường dễbị viêm xoang.

Triệu chứng và biến chứng

Làm thế nào để phát hiện mình đang bị viêm xoang?

Viêm xoang thường xuất hiện sau viêm mũi (dân gian hay gọi là cảmcúm) nếu không được điều trị 7 - 10 ngày. Bệnh nhân có thể xuất hiện sốt38 - 40°C (viêm xoang cấp hoặc giai đoạn cấp của viêm xoang mạn tính).Có thể tiếp xúc với một số yếu tố nguy cơ dễ gây viêm xoang: môi trường ônhiễm, thời tiết thay đổi, điều kiện ăn ở, nơi làm việc, hóa chất độchại, khói, bụi, nghề nghiệp…Điều này giải thích tại sao mùa lạnh làmtăng số lượng bệnh nhân viêm xoang.

- Sau viêm mũi họng cấp (cảm cúm) bệnh nhân vẫn thường xuyên: Chảynước mũi, mũi vàng xanh; Ngạt tắc mũi hai bên; Nhức mỏi mắt, nặng đầu;Đau nhức vùng sọ mặt tương ứng với từng xoang bị viêm: nhức trán (viêmxoang trán), nhức má (viêm xoang hàm), đau nhức góc trong ổ mắt (viêmxoang sàng trước), nặng sau gáy (viêm xoang sàng sau và xoang bướm).

Khi nào nên đi khám?

Sau viêm mũi 3 ngày mà thấy vẫn có nhiều dịch mũi, dịch ngày càngđặc, có thể kèm ho khan. Giai đoạn này nên đi khám ngay mới tránh đượcviêm xoang hoặc viêm xoang đang ở giai đoạn đầu, việc giải quyết bệnhtích sẽ đơn giản hơn cho thầy thuốc cũng như cho bệnh nhân, đồng thờingười bệnh cũng sẽ không phải dùng nhiều thuốc, không phải điều trị kéodài, tránh lãng phí cũng như tránh được tác dụng phụ của thuốc cho ngườibệnh.

Biến chứng của viêm mũi xoang

- Với các cơ quan lân cận: viêm tai giữa, viêm họng, viêm thanh quản,viêm phế quản, viêm phổi. Đặc biệt viêm mũi xoang mạn tính gây ra hộichứng xoang – phế quản (Mounier – Kuhn) gây giãn phế nang không hồiphục.

- Biến chứng mắt do viêm xoang: Viêm mô tế bào trước vách còn gọi làáp xe mi mắt. Bệnh nhân trước đó đã bị viêm xoang nhiều lần nhưng khôngthấy triệu chứng rõ ràng, đột nhiên thấy mi trên (nếu là viêm xoangtrán, xoang sàng) hoặc mi dưới (nếu là viêm xoang hàm) tự nhiên sưng tấyvà đỏ mọng, đau nhức nhiều, thị trường và thị lực bình thường. Điều trịkháng sinh cũng mang lại hiệu quả khá nhanh, nhưng nếu vẫn còn lề mềchữa trị thì mi mắt sẽ bị áp xe và vỡ mủ sau 4 - 5 ngày ở phần ba trongmi mắt, để lại vết sẹo khó có thể xóa đi...

+ Viêm tấy ổ mắt: Thường xuất hiện khá đột ngột: vừa mới sổ mũi,nghẹt mũi, nhức đầu nhẹ vài ngày thấy xuất hiện mi mắt sưng húp, tròngmắt bên sưng có thể bị đẩy lồi lên, không chỉ đau nhức ngoài mi mắt nhưtrên mà trong mắt cũng đau. Tuy nhiên, thị lực vẫn bình thường. Biếnchứng này hầu như không gây vỡ mủ ra ngoài da, tạo ra vết sẹo xấu xí.Cần điều trị nội khoa tích cực.

+ Viêm túi lệ (tuyến nước mắt): Xương lệ rất mỏng manh và lại thôngvới xoang sàng, cũng như ở rất gần xoang hàm nên khi các xoang này bịviêm nhiễm thì túi lệ cũng dễ bị ảnh hưởng lây. Đầu tiên là thấy sưng đỏở da vùng khóe trong mắt, sau đó lan ra một phần mi mắt và kết mạc. Nếuđể vài ba ngày sẽ tạo ra áp xe và vỡ mủ. Tuy không ảnh hưởng đến tínhmạng nhưng nếu không điều trị tốt dễ gây hậu quả viêm túi lệ mạn tínhhoặc viêm tắc lệ đạo và bên mắt bị tổn thương lúc nào cũng chảy nướcmắt.

+ Áp xe ổ mắt: Mủ hình thành bên trong mô ổ mắt, đẩy nhãn cầu lồi ra,mi mắt sưng nề. Bệnh nhân đau mắt dữ dội và thị lực ảnh hưởng, nhìn mờ,dù có điều trị thì nguy cơ bị mù cũng rất cao!

+ Viêm thần kinh thị giác hậu nhãn cầu: Thường là hậu quả của viêmxoang sàng sau. Trong trường hợp biến chứng do viêm xoang cấp thì cáctriệu chứng diễn biến nhanh nhưng cũng hết rất nhanh. Khám xoang thìthấy khe giữa đầy mủ vàng xanh, thị lực sụt giảm rất nhanh, nhưng hồiphục cũng rất nhanh sau điều trị.

Trường hợp do biến chứng của viêm xoang mạn tính thì lại khác: khámxoang chỉ thấy chút ít dịch nhầy chảy xuống vòm họng, hai mắt sẽ mờ từtừ với mức độ khác nhau, cảm giác nhìn mọi thứ đều như có sương khói chephủ và rất khó chịu nếu nhìn vào ánh sáng chói. Mắt không phân biệtđược màu sắc rõ ràng nữa, có ám điểm trung tâm (là một điểm ở vùng trungtâm mắt mà khi vật thuộc điểm nhìn này mắt sẽ không nhìn thấy). Trườnghợp này thì cả thị lực lẫn thị trường đều bị tổn thương và dù được điềutrị cũng dễ bị giảm sút.

Điều trị và phòng bệnh như thế nào?

Nguyên tắc chung điều trị viêm xoang là đảm bảo dẫn lưu và thông khí xoang tốt.

Điều trị viêm xoang cấp tính: chủ yếu là điều trị nội khoa. Làm sạchvà thông thoáng hốc mũi: đặt thuốc co mạch, hút dịch; Nhỏ thuốc: phốihợp các loại thuốc co mạch, sát khuẩn và chống phù nề, liệu phápcorticoid tại chỗ kéo dài rất có tác dụng; Xông hơi nước nóng: các loạithuốc có tinh dầu, bay hơi được; Khí dung mũi xoang: thuốc kháng sinhkết hợp với corticoid.

Điều trị toàn thân: Dùng kháng sinh trong 2 tuần có hiệu quả tốt đốivới viêm xoang, nên lựa chọn kháng sinh dựa trên kháng sinh đồ. Thuốcchống viêm và giảm phù nề; Thuốc giảm đau, hạ sốt; Thuốc nâng cao thểtrạng.

Điều trị viêm xoang mạn tính: kết hợp điều trị nội khoa và ngoạikhoa. Trong các đợt hồi viêm, tiến hành trước và sau phẫu thuật. Thuốcđiều trị tại chỗ và toàn thân giống như trong điều trị viêm xoang cấp.

Ngoài ra, cần điều trị cơ địa: thuốc có iod, canxi, photpho, vitaminA, D, thuốc kháng histamin với cơ địa dị ứng hay rối loạn vận mạch.

- Điều trị ngoại khoa chọc rửa xoang: thường áp dụng với xoang hàm,xoang trán mạn tính (ngày nay ít sử dụng); Phương pháp đổi chế Proetz:thường áp dụng với viêm xoang sau mạn tính; Phẫu thuật xoang: Phẫu thuậtxoang khi điều trị nội khoa thất bại hoặc có sự bít tắc đường dẫn lưutự nhiên của xoang (polip, dị vật…). Có hai phương pháp phẫu thuật: Phẫuthuật tiệt căn và nội soi chức năng. Hiện nay phương pháp phẫu thuậtnội soi chức năng xoang ngày càng được áp dụng rộng rãi ở nước ta, kếtquả điều trị cao hơn so với phẫu thuật tiệt căn xoang cổ điển.

Phòng bệnh viêm mũi xoang

Đeo khẩu trang khi tiếp xúc với lạnh, bụi, hóa chất độc hại…

Điều trị tốt các ổ viêm nhiễm ở mũi họng, răng miệng.

Điều trị tốt các bệnh viêm đường hô hấp, hội chứng GERD.

Nâng cao thể trạng, tăng cường sức chống đỡ của niêm mạc mũi xoang.

TS. Phạm Thị Bích Đào

Nguồn suckhoedoisong.vn

 

Thông báo Thông báo

Liên kết web Liên kết web

Thống kê truy cập Thống kê truy cập

  Đang truy cập : 1
  Hôm nay: 773
  Tổng lượt truy cập: 5596852