Truy cập nội dung luôn

Thống kê nhân viên hành nghề Khám, chữa bệnh

NGÀY ASEAN PHÒNG CHốNG SốT XUấT HUYếT 2020: Hãy cùng hành động
09/06/2020

 

     Sốt xuất huyết (SXH) là một bệnh nhiễm vi-rút do muỗi truyền, tỷ lệ mắc đã tăng mạnh trong những thập kỷ gần đây với khoảng một nửa dân số thế giới hiện đang có nguy cơ. Ước tính có khoảng 100 - 400 triệu ca nhiễm mỗi năm. Phòng, chống SXH phụ thuộc vào các biện pháp kiểm soát véc-tơ hiệu quả cùng với sự tham gia bền vững của cả cộng đồng có thể cải thiện đáng kể số mắc và tử vong.

Kiểm soát lăng quăng Aedes trong dụng cụ chứa nước.

 Ảnh Thanh Hoàng

Gánh nặng SXH toàn cầu

     Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) số ca mắc SXH được báo cáo đã tăng hơn 15 lần trong hai thập kỷ qua, từ 505.430 trường hợp năm 2000 lên hơn 2.400.138 trường hợp trong năm 2010 và 3.312.040 trong năm 2015. Tử vong năm 2000 với 960 trường hợp, tăng lên 4.032 trường hợp vào năm 2015.

     Năm 2019 vừa qua, số ca mắc SXH được báo cáo trên toàn cầu là cao nhất, hầu hết tất cả các khu vực đều bị ảnh hưởng và lần đầu tiên bệnh SXH được ghi nhận ở Afghanistan. Chỉ riêng khu vực châu Mỹ đã báo cáo 3,1 triệu trường hợp, với hơn 25.000 trường hợp được xem là nghiêm trọng. Mặc dù số trường hợp mắc bệnh đáng báo động, tuy nhiên các ca tử vong liên quan đến SXH ít hơn so với năm trước. Số lượng lớn các trường hợp mắc đã được báo cáo ở Bangladesh (101.000), Malaysia (131.000) Philippines (420.000), Việt Nam (320.000).

     Một mô hình ước tính cho thấy có 390 triệu ca nhiễm vi-rút SXH mỗi năm, trong đó 96 triệu ca có biểu hiện lâm sàng. Một nghiên cứu khác về tỷ lệ mắc SXH ước tính rằng 3,9 tỷ người có nguy cơ bị nhiễm vi-rút SXH. Mặc dù 129 quốc gia có nguy cơ lây nhiễm, nhưng 70% gánh nặng thực tế là ở châu Á.

     Sự gia tăng đáng báo động về số ca bệnh này được giải thích một phần bởi sự thay đổi trong cách ghi nhận và báo cáo SXH gửi về Bộ Y tế và WHO. Mặc dù gánh nặng toàn cầu của bệnh là không chắc chắn, nhưng sự gia tăng do quan sát được giúp ước tính chính xác hơn về toàn bộ gánh nặng mà bệnh SXH gây ra.

Cơ chế lan truyền bệnh

     Vi-rút gây bệnh SXH được truyền sang người qua vết đốt của muỗi cái bị nhiễm bệnh, chủ yếu là muỗi Aedes aegypti. Thời gian từ khi vi-rút xâm nhập đến khi truyền cho vật chủ mới được gọi là thời gian ủ bệnh bên ngoài, mất khoảng 8-12 ngày. Biến động trong thời kỳ này không chỉ bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ môi trường trong khoảng 25-28° mà còn liên quan đến một số yếu tố khác như cường độ dao động nhiệt độ hàng ngày, kiểu gen của vi-rút và nồng độ vi-rút ban đầu cũng có thể thay đổi thời gian cần thiết để muỗi truyền vi-rút. Sau khi lây nhiễm, muỗi có khả năng truyền vi-rút cho đến hết đời.

     Bênh cạnh đó, muỗi có thể nhiễm bệnh từ những người bị SXH có triệu chứng, chưa có triệu chứng, hoặc không có triệu chứng. Khoảng thời gian lây truyền sang muỗi có thể xảy ra 2 ngày trước khi xuất hiện các triệu chứng của bệnh cho đến 2 ngày sau khi hết sốt.

     Phương thức chính của việc truyền vi-rút Dengue (DENV) giữa người với người liên quan đến véc-tơ muỗi. Tuy nhiên, có bằng chứng về khả năng lây truyền từ mẹ mang thai sang con. Khi người mẹ bị nhiễm DENV có thai, em bé có thể bị sinh non, nhẹ cân và suy thai.

Sinh thái học véc-tơ

     Muỗi Aedes aegypti là véc-tơ chính của DENV. Môi trường sống của chúng chủ yếu ở đô thị và trong các vật dụng chứa nước nhân tạo. Muỗi cái Ae. aegypti thường xuyên hút máu người nhiều lần giữa mỗi giai đoạn đẻ trứng. Khi một con cái đã đẻ trứng, những quả trứng này có thể tồn tại trong vài tháng và sẽ nở khi chúng tiếp xúc với nước.

     Với loài Aedes albopictus, đây là một véc-tơ lây truyền SXH thứ yếu ở châu Á, hiện đã lan rộng đến hơn 32 tiểu bang ở Hoa Kỳ và hơn 25 quốc gia ở khu vực châu Âu, môi trường sinh sản chủ yếu là các lốp xe đã qua sử dụng, các dụng cụ khác có chứa nước do chúng có tính thích nghi cao. Sự lan truyền địa lý của nó phần lớn là do khả năng chịu đựng các điều kiện lạnh hơn ở giai đoạn trứng và trưởng thành.  Aedes albopictus đã được coi là véc-tơ chính của DENV trong một số vụ dịch, trong khi Aedes aegypti không có mặt hoặc xuất hiện với số lượng thấp.

Đặc điểm bệnh

     SXH là một bệnh nguy hiểm, WHO đã chia SXH thành 2 loại chính: SXH (có/không có dấu hiệu cảnh báo) và SXH nặng. Phân loại phụ của bệnh có hoặc không có dấu hiệu cảnh báo được thiết kế để giúp các nhân viên y tế phân loại bệnh nhân nhập viện, đảm bảo quan sát chặt chẽ và giảm thiểu nguy cơ bệnh tiến triển nặng hơn.

     SXH: nên nghi ngờ khi sốt cao 40°C đi kèm với 2 trong số các triệu chứng sau đây trong giai đoạn sốt: đau đầu dữ dội, đau sau mắt, đau cơ và khớp, buồn nôn, nôn, viêm tuyến, phát ban. 

     SXH nặng: một bệnh nhân bước vào giai đoạn được gọi là giai đoạn quan trọng thông thường khoảng 3 - 7 ngày sau khi phát bệnh. Vào thời điểm này, khi sốt hạ xuống dưới 38°C, nhưng các dấu hiệu cảnh báo liên quan đến SXH nặng có thể biểu hiện như: đau bụng nhiều, nôn mửa kéo dài, thở nhanh, chảy máu nướu răng, mệt mỏi, bồn chồn, nôn ra máu. Cần theo dõi chặt chẽ trong 24 - 48 giờ tiếp theo là điều cần thiết để có thể chăm sóc y tế đúng cách, tránh các biến chứng và nguy cơ tử vong do thất thoát huyết tương, tích tụ chất lỏng, gây suy hô hấp, chảy máu nghiêm trọng hoặc suy nội tạng.

    Bệnh SXH hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chủ yếu là đều trị triệu chứng. Các lựa chọn tốt nhất khi sử dụng thuốc giảm đau, hạ sốt là acetaminophen hoặc paracetamol, tránh dùng NSAID (thuốc chống viêm không steroid), như ibuprofen và aspirin vì có thể làm trầm trọng thêm tiên lượng.

     Đối với SXH nặng, sự chăm sóc y tế của các bác sĩ và y tá có kinh nghiệm có thể làm giảm tỷ lệ tử vong từ hơn 20% xuống dưới 1%. Vì vậy, bệnh nhân có triệu chứng mắc SXH nhanh chóng đến cơ sở y tế khi xuất hiện các dấu hiệu cảnh báo.

Hành động để ngăn ngừa và kiểm soát

     Nếu bạn biết mình bị SXH, hãy tránh bị muỗi đốt trong tuần đầu tiên mắc bệnh. Vi rút có thể lưu hành trong máu trong thời gian này, do đó bạn có thể truyền vi-rút sang những con muỗi mới chưa bị nhiễm bệnh, chúng có thể lần lượt lây nhiễm sang người khác.

     Phòng chống muỗi sinh sản bằng cách ngăn chặn muỗi tiếp cận môi trường sống đẻ trứng bằng cách quản lý và thay đổi môi trường; Xử lý chất thải rắn đúng cách và loại bỏ môi trường sống nhân tạo có thể giữ nước; Bao phủ, đổ và làm sạch các thùng chứa nước sinh hoạt hàng tuần; Áp dụng hóa chất thích hợp cho các thùng chứa nước ngoài trời;

     Bảo vệ cá nhân khỏi muỗi đốt: Sử dụng thuốc chống côn trùng đốt, mặc quần áo dài tay giúp giảm thiểu tiếp xúc giữa da với muỗi. Các biện pháp này cần được thực hiện cả bên trong và bên ngoài nhà như: tại nơi làm việc, trường học vì muỗi truyền bệnh hoạt động cả ngày.

     Kết nối cộng đồng: tăng cường tuyên truyền, vận động giúp cộng đồng hiểu hơn về những rủi ro khi mắc bệnh. Đồng thời, huy động sự tham gia của cả cộng đồng trong việc cải thiện môi trường và kiểm soát véc-tơ bền vững;

     Các cơ quan y tế áp dụng các biện pháp kiểm soát véc-tơ khẩn cấp như phun hóa chất diệt muỗi khi có dịch bệnh. Bên cạnh đó, cần giám sát thường xuyên và giám sát trọng điểm véc-tơ, thành phần loài giúp xác định được hiệu quả của các can thiệp, theo dõi tỷ lệ nhiễm vi-rút trong quần thể muỗi và sự lưu hành của các týp vi-rút;

     Theo tài liệu của WHO, vắc-xin SXH Dengvaxia® (CYD-TDV) do Sanofi Pasteur phát triển đã được cấp phép vào tháng 12 năm 2015 và hiện đã được cơ quan quản lý tại 20 quốc gia chấp thuận, đã được chứng minh trong các thử nghiệm lâm sàng có hiệu quả và an toàn đối với những người đã từng bị nhiễm vi-rút SXH trước đó. Vì vậy tiêm phòng, nên được xem là một phần của chiến lược phòng, chống SXH tích hợp cùng với các biện pháp phòng ngừa khác như kiểm soát véc-tơ cần được thực hiện tốt và duy trì. Tuy nhiên, dù đã được tiêm phòng hay không, bạn nên đến cơ sở y tế kịp thời nếu có các triệu chứng giống như SXH xảy ra.

     Hiện nay, đang có nhiều nghiên cứu do nhiều nhóm cộng tác viên quốc tế nhằm tìm kiếm các công cụ mới và các chiến lược đổi mới sẽ góp phần vào nỗ lực toàn cầu trong việc ngăn chặn sự lây truyền bệnh SXH, cũng như các bệnh khác do muỗi truyền. Việc tích hợp các phương pháp quản lý véc-tơ được WHO khuyến khích để đạt được các biện pháp can thiệp kiểm soát véc-tơ phù hợp, hiệu quả tại địa phương./.

Lê Đăng Ngạn, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật

 (Cập nhật tài liệu của tổ chức Y tế thế giới ngày 15/5/2020)

Tương phản
Đánh giá bài viết(0/5)

Thông báo Thông báo

Liên kết web Liên kết web

Thống Kê Truy Cập Thống Kê Truy Cập

Đang truy cập:
-
Hôm nay:
-
Tuần hiện tại:
-
Tuần trước:
-
Tháng hiện tại:
-
Tháng trước:
-
Tổng lượt truy cập:
-